Cây Rau má ngọ hay còn có tên là cây rau má lá rau muống cuống rau răm hay còn có tên dân gian thường gọi là: Tiết gà, tam tróc, Rau chua lè, Hoa mặt trời, Lá mặt trời.

Theo Đông y Trung Quốc còn gọi là: Hồng bối diệp, Dương đề thảo, Nhất điểm hồng nói đến hoa của cây này rất bé, khi nở chỉ có màu hồng, giống như những chấm nhỏ điểm trên thân cây màu xanh.

rau má ngọ chữa ung thư trực tràng

Bông hoa bé, màu hồng - Nhất điểm hồng

Tên khoa học: Emilia sonchifolia (L) DC.: Thuộc họ Cúc Asteraceae.

Khi đọc cái tên và hiểu được nó, có thể dễ dàng nhận biết cây này ngoài thiên nhiên.

rau má ngọ chữa ung thư trực tràng rau má ngọ chữa ung thư trực tràng
Cây rau má: là khi lúc nhỏ cây này rất giống cây rau má

 

rau má ngọ chữa ung thư trực tràng rau má ngọ chữa ung thư trực tràng
Lá rau muống: là khi cây này lớn lên có lá dạng thùy giống lá cây rau muống

 

rau má ngọ chữa ung thư trực tràng rau má ngọ chữa ung thư trực tràng
Cuống rau răm: là chỉ thân cây nhỏ mỏng manh, chỉ bằng như cây tăm, thân chia đốt giống cây rau răm
  • Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất - Herba Emiliae, gọi là Nhất điểm hồng.
  • Nơi sống và thu hái: Loài liên nhiệt đới mọc hoang khắp nơi, ở bãi cỏ ven đường, bờ ruộng ẩm, bãi cát. Có thê thu hái cây quanh năm. Cắt lấy cây trên mặt đất, rửa sạch đem phơi hay sấy khô.
  • Đặc biệt cây này phân bố trên vùng Tả Phìn Hồ - Hà Giang rất nhiều.
  • Thành phần hoá học: Sơ bộ nhận thấy có stearin glycosid và alcaloid.
  • Tính vị, tác dụng: Vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêm viêm, sát khuẩn, hoạt huyết khu ứ.

Công dụng, chỉ định và phối hợp thường dùng chữa:

  1. Cảm cúm sốt, viêm phần trên đường hô hấp, đau họng nhọt ở miệng;
  2. Viêm phổi nhẹ;
  3. Viêm ruột ỉa chảy, lỵ;
  4. Bệnh đường niệu sinh dục;
  5. Viêm vú, viêm tinh hoàn;
  6. Ðau do vết thương, đinh nhọt, eczema, viêm thần kinh da, chấn thương bầm dập, rắn cắn;

Ngoài ra: Nước sắc lá dùng tắm gội chữa sởi. Cây tươi giã, thêm nước, gạn uống và lấy bã đắp trị rắn cắn. Dùng ngoài, giã nhỏ đắp hoặc băng bó chữa mụn rò vàng, đinh nhọt. Nước ép lá tươi giã nát nhỏ vào tai chữa viêm tai có mủ. Dùng ngoài không kể liều lượng.  Nước sắc dùng nhỏ mắt chữa đau mắt;

Ở Ấn Ðộ, dùng như chất hạ sốt trong viêm màng nhĩ ở trẻ em và đau ruột. Dịch lá dùng trị viêm mắt, quáng gà và đau tai. Rễ dùng trị ỉa chảy;

Theo Shylesh BS 1 , Padikkala J . Trong một nghiên cứu về độc tế bào và đặc tính chống ung thư của Emilia sonchifolia ( L. ) DC ở chuột trong điều kiện in vitro;

Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng: Chiết xuất methanolic của Emilia sonchifolia (Compositae), được tìm thấy là độc tế bào đối với ung thư biểu mô Daltons (DL), Ehrlich cổ tử cung (EAC) và tế bào nguyên bào phổi chuột ( L- 929), nhưng không độc hại đối với tế bào lympho người bình thường, trong điều kiện in vitro. Dùng đường uống của chiết xuất (100 mg / kg, b. Wt) cho chuột làm giảm sự phát triển của cả khối u rắn và cổ trướng và tăng tuổi thọ của những con chuột mang khối u này. Hơn nữa, chiết xuất ức chế tổng hợp DNA như được đánh giá từ việc giảm sự kết hợp thymidine bắt nguồn vào các tế bào DL trong điều kiện in vitro;

Ngoài ra, trong nghiên cứu: Kích hoạt của cả hai tuyến bên ngoài và nội tại trong HCT 116 Tế bào ung thư đại trực tràng của con người để Apoptosis thông qua tín hiệu ATM / FAS qua trung gian p53 bởi chiết xuất của Emilia sonchifolia - một cây thuốc dân gian;

Nghiên cứu bởi Lan YH 1, Chiang JH, Huang WW, Lu CC, Chung JG, Wu TS, Jhan JH, Lin KL, Pai SJ, Chiu YJ, Tsuzuki M, Yang JS;

Mục đích của nghiên cứu này khám phá sự khởi đầu của quá trình apoptosis và các cơ chế phân tử của nó trong tế bào ung thư đại trực tràng của HCT được điều trị bằng ESE trong ống nghiệm. ESE methanolic được đặc trưng, và γ-humulene được hình thành như là thành phần chính (63,86%). ESE gây ức chế tăng trưởng tế bào trong phản ứng nồng độ và thời gian phụ thuộc vào xét nghiệm MTT. Các tế bào Apoptotic (phân mảnh ADN, một catachrestic apoptotic) được tìm thấy sau khi điều trị ESE bằng xét nghiệm TUNEL và điện di gel DNA.

Ngoài ra, ESE kích thích các hoạt động của caspase-3, -8, và -9 và các chất ức chế caspase cụ thể của chúng được bảo vệ chống lại độc tính gây độc do ESE gây ra. ESE thúc đẩy các mức protein liên quan đến thụ thể phụ thuộc vào tử vong và ty thể. Cũng thế, ESE đã tăng sản lượng ROS và điều chỉnh các mức ATM, p53 và Fas trong các tế bào HCT 116. Nổi bật, p53 siRNA đảo ngược khả năng sống giảm ESE liên quan đến tín hiệu ATM / FAS qua trung gian p53 trong các tế bào HCT 116. Tóm lại, kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng ESE có thể có hiệu quả tiềm năng trong điều trị ung thư đại trực tràng.

Nguồn tham khảo:

  1. http://www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy/show_target.plx?url=/thuocdongy/R/RauMaLaRauMuong.htm&key=&char=R;
  2. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11091004: In vitro cytotoxic and antitumor property of Emilia sonchifolia (L.) DC in mice;
  3. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/22474491: Activations of Both Extrinsic and Intrinsic Pathways in HCT 116 Human Colorectal Cancer Cells Contribute to Apoptosis through p53-Mediated ATM/Fas Signaling by Emilia sonchifolia Extract, a Folklore Medicinal Plant.

Doctor SAMAN
NCV Nguyễn thị Quyên