Định nghĩa

Mụn trứng cá Vulgaris là một chứng rối loạn về da, có thể xuất hiện dưới dạng tổn thương không viêm (mụn đầu đen, mụn đầu trắng) hoặc viêm mãn tính (mụn mủ, nốt sẩn, u nang) hoặc cả hai dạng, thường ảnh hưởng đến các khu vực có mật độ cao các tuyến bã nhờn như mặt, cổ, ngực, phía trên lưng và cánh tay.

Hình 1: Một số hình ảnh mụn trứng cá Vulgaris

Hình 1: Một số hình ảnh mụn trứng cá Vulgaris

Dịch tễ học

Mụn trứng cá Vulgaris là một trong những bệnh da liễu phổ biến nhất, chiếm 22-32% các trường hợp mắc bệnh. Theo nghiên cứu của Chương trình Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (GBD), mụn trứng cá ảnh hưởng đến khoảng 85% thanh thiếu niên tuổi từ 12-25 tuổi.

Cơ chế bệnh sinh

Cho đến nay, cơ chế bệnh sinh vẫn rất phức tạp và chưa có hiểu biết đầy đủ. Bốn quá trình riêng biệt được cho là đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành các tổn thương mụn trứng cá:

  • Sự tăng tiết bã nhờn
  • Sự thay đổi keratin hóa bất thường của phễu nang lông
  • Sự xâm nhập của trực khuẩn kỵ khí Propionibacterium acnes
  • Giải phóng các chất trung gian gây viêm xung quanh các lỗ chân lông

Trong đó sự tăng tiết bã nhờn được coi là điều kiện cần của mụn trứng cá, còn phản ứng viêm là yếu tố quyết định.

Hình 2: Cơ chế bệnh sinh mụn trứng cá Vulgaris

Hình 2: Cơ chế bệnh sinh mụn trứng cá Vulgaris

Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ

Di truyền­­

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy yếu tố di truyền góp phần quan trọng vào sinh lý bệnh của mụn trứng cá. Năm 2013, Yaykasli cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 85 đối tượng tại Khoa Da liễu - Bệnh viện Đại học Duzce, chứng minh sự phân bố kiểu gen GG, GC và CC cho đa hình TIMP2 (−418G / C) là khác nhau giữa các nhóm bệnh nhân và nhóm đối chứng, kết luận kiểu gen TIMP2 có thể làm tăng nguy cơ phát triển mụn trứng cá Vulgaris.

Nội tiết tố

Khi có sự kích thích của hormone, cụ thể là Androgen, các tế bào vùng nang lông (tế bào bã nhờn, tế bào sừng và tế bào lót) được kích hoạt và bắt đầu tăng sinh. Các tế bào lót tăng sinh không thể thoát khỏi nang lông, chúng tạo thành một nút bít, giữ việc sản xuất bã nhờn và tăng trưởng lông tiếp tục bên dưới, đồng thời làm ảnh hưởng đến lượng oxy khuếch tán vào các tế bào ở dưới, hạn chế sự trao đổi chất của các tế bào này và cung cấp một môi trường kỵ khí lý tưởng cho trực khuẩn kỵ khí Proprionibacterium acnes phát triển. Thêm vào đó, việc sản xuất quá nhiều bã nhờn cung cấp một nguồn dinh dưỡng dưới dạng axit béo cho trực khuẩn nhanh chóng nhân lên trong nang lông.

Điều này giải thích vì sao mụn trứng cá thường xuất hiện ở tuổi dậy thì.

Chế độ dinh dưỡng

Sữa không chỉ giàu Progesterone mà còn chứa tiền chất khác của Dihydrotestosterone (DHT), chẳng hạn như 5α-Pregnanedione và 5α-Androstanedione kích thích sản xuất bã nhờn. Năm 2006 - 2008, Adebamowo và cộng sự tiến hành một số nghiên cứu và kết luận rằng có mối tương quan giữa việc tiêu thụ sữa và mụn trứng cá Vulgaris.

 Ăn nhiều thực phẩm có hàm lượng đường cao (socola, bánh kẹo ngọt,...) dễ dẫn đến tăng đường huyết từ đó làm tăng insulin máu. Nồng độ insulin tăng cao kích thích tiết Androgen làm tăng hoạt động tuyến bã nhờn.

Thực phẩm cay, nóng khiến nhiệt độ cơ thể tăng, kích thích các tuyến tăng hoạt động, trong đó có tuyến dầu, bã nhờn; tiếp đó là quá trình tiết nhiều mồ hôi để hạ nhiệt làm tắc nghẽn lỗ chân lông, thuận lợi cho mụn trứng cá phát triển.

Các yếu tố nguy cơ khác:

Môi trường bụi bẩn, nóng bức; ngủ muộn, ngủ không đủ giấc; stress căng thẳng; sử dụng mỹ phẩm không rõ nguồn gốc;...đều có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện và khiến cho tình trạng mụn ngày càng xấu đi.

Tài liệu tham khảo:

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4391699/

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4884775/

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5300732/

https://onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1111/bjd.13634

Doctor SAMAN

DS.NCV Nguyễn Thị Thức