A. Đặc điểm bệnh đái tháo đường typ 1

Một số yếu tố gây và làm khởi phát bệnh ĐTĐ-T1: ĐTĐ-T1 có cơ chế bệnh sinh đa yếu tố, gồm di truyền, tự miễn dịch và yếu tố môi trường.

Yếu tố di truyền: ĐTĐ-T1 là một bệnh đa gen, các gen chính có mối liên quan mạnh nhất là gen mã hóa cho phức hợp MHC lớp II, đặc biệt kháng nguyên bạch cầu người HLA lớp II; Yếu tố DR và DQ; Yếu tố di truyền còn lại là tập hợp của nhiều gen khác nhau. Gen không phải HLA nhưng nhạy cảm với sự tiến triển ĐTĐ-T1 là CTLA4 (Protein 4 gây độc tế bào Lympho T); IFIH1 - interferon có nhánh helicase C; ITPR3 - thụ thể inositol 1,4,5- triphosphate 3; thụ thể IL-2 và PTPN22 - protein tyrosine phosphatase, không phải thụ thể typ 22.

Yếu tố miễn dịch:  ĐTĐ-T1 là bệnh tự miễn dịch, viêm tụy là bằng chứng của sự tự miễn dịch. ĐTĐ-T1 phải có ít nhất một hoặc hơn trong 5 kháng thể như đã nêu ở phần 1. Các tự kháng thể xuất hiện liên tục, mà Insulin là kháng nguyên đầu tiên đóng vai trò trong khởi phát bệnh. Các protein xúc tác glucose-6-phosphatase đặc hiệu của tiểu đảo (IGRP) và chromogramin A đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển của bệnh. Các tự kháng thể không đóng vai trò là nguyên nhân chính dẫn đến đái tháo đường mà mấu chốt là ở các tế bào của hệ miễn dịch cùng với các tế bào có khả năng đáp ứng miễn dịch T CD4+, T CD8+, T điều hòa, tế bào B và tương bào. Người ta thấy, bệnh ĐTĐ-T1 thường kết hợp với một số miễn dịch tự miễn khác như viêm tuyến giáp Hashimoto, thiếu máu Biermer, bạch biến, vảy nến, cứng bì, lupus ...

Yếu tố virus: Nhóm quai bị hoặc Rubella, Entrovirus, Coxakie B Virus chúng gây tổn thương tế bào beta theo đó giải phóng các kháng nguyên. Bệnh Rubeon bẩm sinh có thể thay đổi sự phát triển của tế bào T, tạo ra tình trạng mẫn cảm với một loạt rối loạn tự miễn. Có giả thuyết cho là virus Rubeon bắt chước một tự kháng nguyên tiểu đảo dẫn đến tự miễn kháng tiểu đảo. Sự tương đồng về trình tự giữa protein P2-C của các virus coxakie B và tự kháng nguyên GAD65 đã dẫn đến lý thuyết về khởi phát tự miễn bởi sự giống nhau đó. Peptid trội miễn dịch của bệnh nhân ĐTĐ-T1 đồng đẳng với VP1 của virus Coxsakie B4, với các tự kháng nguyên đặc hiệu như Proteinphogrin, enzyme Phosphofructokinase và các kênh Canxi typ 1 có vai trò điều khiển sự teo chết tế bào.

Các nhà khoa học cũng tiếp tục nhận diện một số loại Retrovirus khác có tác động gây khởi phát bệnh ĐTĐ-T1. ĐTĐ-T1 khởi phát bởi virus được giải thích theo giả thuyết về sự giống nhau của các phân tử protein của tế bào beta tuyến tụy và của virus hoặc theo giả thuyết tế bào beta lẫn tế bào đại thực bào bị nhiễm virus trực tiếp. Dù theo giả thuyết nào thì cũng có sự kích thích của T-CD8+ tiêu diệt tế bào beta và vai trò của đại thực bào làm cho T-CD4+  kích thích lympbo bào B tạo ra các tự kháng thể kháng tế bào beta sinh miễn dịch thể dịch.

Nghiên cứu khác cũng cho thấy khi nhiễm virus Coxsakie có sự sản sinh superoxide bởi enzym Oxidase NADPH. Chất này sẽ ngăn cản đại thực bào chống virus, làm tăng thụ cảm giống toll gây viêm, tăng di chuyển Chemokin là chất hướng động viêm, tăng bất hoạt gen chống virus ở tụy.. Như vậy, sự sản sinh superoxide sau khi bị nhiễm virus CB3 có thể làm trầm trọng thêm sự phá hủy tế bào beta tụy trong bệnh ĐTĐ-T1. Tín hiệu thụ cảm virus hỗ trợ sự khởi phát bệnh ĐTĐ-T1 vì việc nhận diện kháng nguyên virus thông qua các thụ cảm quan viêm nhiễm góp phần vào phản ứng tự miễn ở tuyến tụy.

Nhiễm virus cũng gây ra biệt hóa ngược β tụy, vì virus có khuynh hướng tương tác với các gen nhiễm bệnh, các thí nghiệm cho thấy khi nhiễm virus hệ miễn dịch rối loạn nhận diện β. Thí nghiệm làm giả nhiễm virus cho thấy có sự giảm biểu hiện rõ rệt gen đặc hiệu tế bào beta và làm hoạt hóa các gen gốc SOX9, chúng bị cảm ứng bởi hoạt động của yếu tố nhân thông qua sự bài tiết interferon-α. Các đích của SOX9 trong các tế bào beta của người có vai trò là chất chỉ thị biệt hóa ngược tế bào beta trong bệnh ĐTĐ T1.

Yếu tố dinh dưỡng: tác động đến khởi phát bệnh ĐTĐ-T1 như một nguy cơ cao, thấy trẻ nhỏ nuôi bằng sữa bò có nguy cơ nhiễm ĐTĐ-T1 nhiều hơn so với trẻ nhỏ được nuôi bằng sữa mẹ vì trong sữa bò có 1 loại albumin có khả năng phản ứng chéo với các protein đảo tụy. Trẻ con ăn ngũ cốc dưới 4 tháng  cũng có thể dễ bị làm thúc đẩy quá trình tự miễn. ĐTĐ-T1 cũng liên quan thiếu hụt Vitamin D, uống vitamin D khi nhỏ giảm nguy cơ đái tháo đường. Đột biến gen của protein gắn vitamin D, đột biến gen thụ cảm vitamin D  và các yếu tố có quan hệ với vitamin D có sự liên quan rõ rệt. Các độc chất như Aloxen, Treptozotocin, Pentamidin tấn công trực tiếp vào tế bào beta, tự mình gây khởi phát ĐTĐ-T1.

Yếu tố địa lý và nhân trắc học: người ở Phần lan, Bắc Âu và ở đảo Sardinia thuộc Italy có tỷ lệ ĐTĐ-T1 cao bất thường.

Một số yếu tố khác:

1.Sự rối loạn các virus ở đường ruột đã xảy ra trước giai đoạn khởi phát bệnh ĐTĐ-T1;
2.Thực nghiệm trên chuột cho thấy sự mất cân bằng giữa các tín hiệu kích thích B7.1 và  các tín hiệu ngăn cản B7-H1 trên các tế bào beta tuyến tụy có thể gây khởi phát  sự hủy diệt các tế bào beta tuyến tụy bởi các tế bào T CD8;
3.Tăng đường huyết kéo dài gây ra sự phát triển của đáp ứng tự miễn dịch β tụy, đây là hệ lụy của quá trình Oxy hóa – Nitrit hóa làm thay đổi  tính toàn vẹn của albumin huyết thanh người;
4.Rối loạn tín hiệu thụ thể giống toll (Toll - like receptor) gây tác động miễn dịch tự nhiên trong ĐTĐ-T1 trên chuột là bằng chứng quan trọng.

Doctor SAMAN
TS. Đỗ Văn Lộc